TUỆ
GIÁC: ÁNH SÁNG VÀ CON DAO
(Võ
Quốc Việt)
***
Nền
tảng tuệ giác
Tuệ
giác có giống như trí tuệ thông thường? Tuệ giác hay thánh trí không đơn thuần
như việc ta nắm bắt định đề toán pháp hay nguyên lý cơ học. Hơn thế, trí tuệ
hay trí huệ (Prajñā/ paññā) “mang ý nghĩa sự hiểu biết phát sinh từ sự rèn
luyện tâm linh, soi sáng bản chất của các pháp, và đạt đến đỉnh cao là sự thanh
tịnh tâm và giải thoát tâm”[1;401]. Do đó, việc thực hành và rèn luyện tâm
linh giúp người cầu đạo đạt đến tâm thanh tịnh, dẫn tới giác ngộ. Như thế, nền
tảng của tuệ giác trước hết ở chỗ rèn luyện nhằm an định và vững chãi tâm. Cũng
tức là, tuệ giác bao hàm trong đó nghĩa lý nhận thức sâu sắc đúng đắn và quá
trình tu tập, chứng nghiệm.
Và
tuệ giác còn khác với tri kiến thông thường ở chỗ đưa tới giác ngộ. Tuệ giác hiểu
một cách đơn giản thể như phương thức thanh tịnh tâm và thanh tịnh tâm là điều
kiện tiên khởi khai mở tuệ giác. “Khi trí tuệ tiếp tục tăng cường và phát
triển, nó thâm nhập càng lúc càng sâu hơn vào bản chất của vạn pháp, và đạt đến
đỉnh cao với tri kiến đầy đủ trọn vẹn được gọi là giác ngộ (sambodhi)”[1;401].
Rèn-giới; luyện-định; và tuệ-khai mở, hiệp thành con đường đưa tới khả thể giải
thoát.
Vậy
tuệ giác có phải mục tiêu cánh chung trên đường giác ngộ? Đức Khổng Tử từng có
ý: “Chưa biết việc sống, đâu biết được việc chết”. Đó là bám vào cái ý
“sống ở trong đời” để thi hoạt cơ hội sống trải trên cõi thế gian. Đức Phật
Thích Ca cũng có ý không luận bàn chuyện viễn vông. Hơn thế nữa, để khuyên giải
chúng sinh sống cuộc hằng trải trong cõi thế gian thì, Ngài chỉ rõ bản chất của
cõi thế gian, mà rộng hơn là bản chất của vạn pháp. Ngài nhìn thấy chúng sinh lặn
hụp trong bể trầm luân, cứ trở đi trở lại trong nỗi khổ niềm đau không dứt. Việc
hằng sống cũng không rõ đâu cứu cánh, phương tiện, khiến cho đời sống u mê lầm
lạc, tự trối chết trong cuộc đuổi bắt vô tri vô nghĩa. Lẽ đó trong Phật lý, việc
sống trải không tách rời việc hiểu biết đúng đắn siêu vượt. “Tuệ” đưa tới “giác”
là căn bản, nền tảng cho sự sống trải chân thực đúng đắn vậy! Tuệ giác cũng là
một trong số những khác biệt căn bản của đạo Bụt với truyền thống sùng bái
(bhakti) của Ấn giáo. Chính vì thế, đạo Bụt có thể nói đại để là con đường tuệ
giác ở thì hiện tại tiếp diễn. Đạo và Đời không tách rời, ngược lại Đời là khả
thể của Đạo.
Trí
tuệ theo Phật lý không đơn thuần tư biện thuần túy. Ngược lại, “trí tuệ được biết
bằng cuộc đàm thoại”. Sự cọ xát, trải để nghiệm của tri kiến khiến cho cuộc
trui rèn thành tựu trí tuệ. Và trong cuộc trải và nghiệm ấy, khởi sanh “trực
giác bằng trí tuệ”. Ngược lại, chính điều này khiến trí tuệ trong cách hiểu Phật
lý là tuệ giác, tức trí tuệ đưa tới giác ngộ, vượt lên tri kiến thông thường (vốn
nhập nhằng trong thế nhị nguyên). Cũng vì thế, người có thánh trí tuệ thì xuất
chúng vậy!
Tuệ
giác như ánh sáng xóa tan vô minh
Theo
lời Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, đây là bốn thứ ánh sáng. Thế nào là bốn? Ánh
sáng mặt trăng, ánh sáng mặt trời, ánh sáng ngọn lửa, và ánh sáng trí tuệ.
Trong bốn thứ ánh sáng này, ánh sáng trí tuệ là tối thượng”[1;426]. Vì sao
trí tuệ là ánh sáng tối thượng? “Đó là ánh sáng siêu phàm bởi vì nó soi sáng
bản chất đích thực của các pháp và xóa tan bóng tối của vô minh”[1;401]. Lửa
thánh trí vừa soi sáng những góc khuất ung bế tắc tỵ, vừa thiêu đốt hoại diệt
kiết sử tù đọng trong thân tâm. Bậc thánh trí với giới-định-tuệ trọn đủ như ngọn
lửa, như nguồn sáng rực rỡ chói lọi.
“Xương
ta mai trắng trong vòm lửa
Đốt
cháy từ xưa mấy nghiệp tà”
Lửa
thánh trí còn soi tỏ phần “tà độc” asura xâm hoạt trong trí tưởng. Cuộc
soi tỏ ấy ví như người mù lòa được cơ hội sáng mắt, nhìn rõ mình-người-thế gian
và vạn pháp. Bởi vì, ánh sáng lửa thánh trí vừa soi sáng vừa thiêu đốt “tam độc”
đang gây hại khắp cõi thế gian nên thánh trí tuệ có thể xem như bài thuốc chạy
chữa, hay phương tiện tiêu trừ hiện trạng suy đồi tâm tính hiện nay của nhân loại.
Vấn đề hậu nhân luận (Posthumanism) của thời hậu hiện đại với quá
trình dã nhân hóa/khử nhân tính hóa (Dehumanization) của xã hội
đương thời có thể tìm lối thoát ở đâu ngoài việc khai thị thánh trí cho nhân
sinh.
Muốn
vậy, người phải tự trở thành ngọn lửa thiêng! “Bậc minh triết nên làm cho
tâm mình trong sáng khỏi đều dơ bẩn”[2;3]. Sự cấu uế bợn nhơ ví như tấm màn
che làm mờ mịt nhận thức, khiến cho ngã biệt càng thị oai tác quái, gây cớ sự
nhiễu nhương và bạo động tâm linh. Bước đầu thức tỉnh tâm linh hẳn phải khởi sự
từ chỗ nhìn ra chân tướng u tối trong tinh thần. Tuệ giác là điều kiện/phương
tiện cũng là trạng thái thành tựu sau khi ngã biệt/chủ thể tính vô minh bị nhận
diện. Thế thì, tuệ giác là điều kiện tiên quyết hay kết quả hậu nghiệm, chỉ biết
rằng tuệ giác trực khởi ngay khi u tối bao bọc ngã biệt tan biến. Hai sự thể ấy
hầu như đồng thời.
Với
khả năng soi tỏ vô minh u tối, diệt trừ mê lầm, trí tuệ còn quý báu hơn vàng ngọc
sự sản. Bởi tài sản thường hại kẻ ngu dại, danh dự thường hại kẻ đê hèn. Chỉ có
trí tuệ giúp nhận diện bản chất tài sản, danh dự, công trạng và tất cả các
pháp, đấy mới thực là điều quý báu hơn cả công-danh-lợi. Cho nên, “đến hết của
cải, bậc trí tuệ vẫn an vui; nhưng thiếu trí tuệ dù có tài sản cũng không ở an
được”[2;11]. Giúp nhận diện bào ảnh mộng điệp, thánh trí tuệ cũng tức là
chân giá trị của việc sống trải. Thánh trí tuệ rực rỡ như vầng dương, cao quý
thanh tịnh như mặt nguyệt, lại đẳng trì-trực định như lửa tam muội.
Tuệ
giác như con dao đoạn trừ phiền não
Vì
sao tuệ giác được ví như “con dao”? Nghĩ tưởng tạo tác không ngừng như dòng nước
cuồn cuộn về xuôi, đêm ngày không ngớt. “Cổn cổn Trường Giang đông thệ thuỷ/
Lãng hoa đào tận anh hùng”. Trong cuộc lao tác không thôi của ngã biệt trên
cõi thế gian, các quan năng và niệm tưởng bó siết lấy nhau, không ngừng sinh
triển, tạo ra cả thái bình ngày đêm sóng vỗ. Bể khổ chính ở cuộc ba đào niệm tưởng.
Cuộc ba đào của ngã biệt lại còn liên tục bạo động bởi ái dục. Nhưng hễ biết
ham muốn đang thực hiện sự ham muốn cũng chính là tách rời khỏi ham muốn. Sự biết-thấy
như vậy ví như con dao cắt lìa “phần thịt bên trong”/nội tại với “phần
da bên ngoài”/ngoại hiện, chặt đứt nguồn cơn và triệu chứng của ba đào bạo
động. Phật dạy: “Này các hiền tỷ, ta cho ví dụ này là để nói lên một ý
nghĩa. Đây là ý nghĩa: “phần thịt bên trong” để chỉ sáu nội căn. “Phần da bên ngoài”
để chỉ sáu ngoại căn. “Dây chằng, gân, khớp bên trong” để chỉ lạc thú và dục vọng.
“Con dao sắc bén của người đồ tể” để chỉ Thánh trí tuệ - Thánh trí tuệ này cắt,
xẻo, tiện đứt những phiền não, kiết sử và hệ lụy thuộc nội tâm”[1;426]. Tuệ
giác phá vỡ các “mảng bám” dày đặc thành kiến, chấp nệ, ngu muội trong thân
tâm. Nó ví như con dao hay búa tạ đập vỡ sự cầm tù và quyền bính của dục vọng
khoái trá. Vô minh đưa tới khoái lạc; thánh trí đưa tới an lạc. Tuệ giác bứt
dây cởi trói, vượt thoát như cánh chim ưng tự tại phóng khoáng giữa trời vô lậu,
cũng tức là khả thể mở đường giác ngộ.
Bằng
cách nào tuệ giác chặt đứt ái dục-vô minh? “–Tôi là con nai bị chiều đánh lưới,/
Không biết đi đâu, đứng sầu bóng tối”. Nào những u tối, muộn phiền, kiết sử,
hệ lụy nội tâm ví như muôn vàn dây leo trói buộc. Nhưng bấy nhiêu dây leo ràng
rịt cũng khởi sinh từ vọng tưởng của tâm. Muốn chặt đứt dây leo, trước phải chặt
đứt dòng diễn hiện sinh khởi của tâm. Khi con người còn liên hồi vọng động giữa
bốn bề u minh bao phủ, tức còn lầm lạc trong cánh rừng trần gian. Vậy làm thế
nào để lòng người đạt tới trạng thái thành toàn trọn đủ, không còn vọng động bạo
cuồng! Cái gì dẫn đến bạo động, cái gì là chủ tể của sự bạo động? Tuệ giác từ
chỗ nhận diện, soi chiếu bản chất đến tiêu trừ tâm bạo động. Nói khác, tuệ giác
tiêu trừ ngã biệt, hay ảo tưởng về cái sự “tôi” (I-ness). Khai tâm/khai tuệ (hiểu
một cách đơn sơ) chẳng khác gì vỡ mộng!
Cơn
mơ dẫu kéo dài trăm năm vạn kỷ cũng là cuộc mộng. “Kẻ vô trí tuệ không có
tâm kiên cố, dù sống đến trăm năm cũng không quý bằng bậc trí tuệ trầm tư mặc
tưởng sống một ngày”[2;12]. Ấy là nói đến hữu tại chân thực của bậc thánh
trí. Một trăm năm vô tri vô trí, thiết nghĩ, chẳng khác gì cội cây cục đá trơ
trơ giữa hằng hữu du du miên man! Vậy nên, nghĩa lý hữu tại chân thực trước hết
nằm ở nhận thức và tự nhận thức, và hẳn nhiên nhận thức đúng đắn bản chất của
hiện hữu, chứ không phải trương độ không-thời gian của hiện hữu. Vậy nên kẻ vô
trí sở hữu cả hoàn vũ, sống trọn cả thiên niên, nghĩ cũng vô nghĩa vậy!
“Biển
dâu sực tỉnh giang hà
Còn
sơ nguyên mộng sau tà áo xanh”
Như
lưỡi rìu khai thiên vén mở hồng hoang, như chớp giật đêm trường giông tố, thánh
trí tuệ còn là “con dao – một con dao sắc bén của người đồ tể - bởi vì nó chặt
đứt xuyên suốt đống phiền não rối rắm và từ đó mở ra con đường giải thoát”[1;401].
***
Để
có thánh trí tuệ? “Trí tuệ không đến với người không tập trung (tư tưởng)”[2;10].
Nền tảng tuệ tác trước hết ở an định tâm. Mầm tuệ giác nảy nở trên nền đất vững
lành. Thiền tập cũng như người nông phu lao tác chuẩn bị đất gieo trồng. Và đời
sống phạm hạnh góp phần thuận duyên cho sự hành thiền. Nên nói, giới-định-tuệ là
theo lẽ ấy! Bên cạnh đó, cần nhận thấy “tâm” (như ảo tưởng sự tôi/I-ness) vừa
là nguy cơ quay cuồng điên đảo vừa là khả thể giải thoát hiếm có; ví như con
dao vừa có thể tự sát vừa có thể chặt đứt gông xiềng tù ngục; như ngọn lửa vừa
có thể thiêu đốt vừa có thể soi tỏ hồn người giữa đêm trường. Thấy vậy, có thể
vượt qua cách biệt chia rẽ đôi đường!
“Lửa
quanh đời đốt trắng hồn ta
Tâm
tư bừng sáng nẻo đêm xa
Dậy
thôi đời! Sao tàn trong vô tận
Vang
dội u minh một tiếng gà”
Rừng
Dầu, 14/02/2023
Võ
Quốc Việt
(Nguồn: Tạp chí Văn hóa Phật giáo số 406)
Tài
liệu tham khảo
1.
Bhikkhu Bodhi (2016). Hợp tuyển lời Phật dạy từ Kinh tạng Pali (Trần Như
Mai dịch). Hà Nội: Nxb. Hồng Đức.
2. Tỳ khưu Hộ Tông (1974). Phật ngôn. Saigon: Hiếu Minh ấn quán.



Comments
Post a Comment