TRUY
VẤN TỰ NGÃ HAY “THƯỜNG QUÁN” CỦA
SRI RAMANA MAHARSHI
(Võ
Quốc Việt)
1. Về đạo sư Ramana
Maharshi (1879-1950)
Bhagavan
Sri Ramana Maharshi (thuở nhỏ tên Venkataraman) sinh ngày 30/12/1879 tại Tiruchuzhi
(một ngôi làng nhỏ ở Tamil Nadu, cách Madurai khoảng ba mươi dặm và cách nhà ga
Virudhunagar mười tám dặm)[1]. Cha mất sớm, ông sống với
mẹ, anh trai và hai người em. Sau khi cha mất, ông đến sống ở nhà chú và học tập
như bao đứa trẻ khác. Thôi thúc tâm linh ngày càng lớn, tháng 8/1896 ông từ bỏ
mái gia đình, hành trình đến Arunachala – “Hill of Wisdom/Đồi Bát Nhã”. Sau
hành trình gian nan, chàng trai trẻ Venkataraman đến được Arunachala, tu thành
đạo quả và ở đó đến khi tạ thế.
Trên
đường tìm chân lý, Ramana Maharshi không nhận mình thuộc bất cứ tôn giáo, trường
phái nào. Đơn giản, ông chỉ là người hướng đến việc nhận thức đúng đắn chân lý
và chia sẻ lời khuyên về chân lý đến với mọi người. Ngoài thời gian thiền hành
trên đồi, ông thường xuyên có mặt ở đạo tràng để gặp gỡ và giúp đỡ người tìm đến.
Ông thường ngồi bên cạnh họ trong thiền đường Old Hall, để sức mạnh tâm linh cộng
hưởng và lan tỏa niềm hỷ lạc vô bờ bến, dù không hề có quy định hành thiền cụ
thể nào. Thiền đường luôn rộng mở cho tất cả mọi người, dù họ thuộc tôn giáo,
dân tộc, giới tính, nghề nghiệp, đẳng cấp xã hội nào.
Sri
Ramana Maharshi được xem là hiền nhân có sức ảnh hưởng rộng rãi trong số đạo sư
của đất nước Ấn Độ hiện đại. Ông không nhận mình thuộc giáo phái nào; cũng
không phải nhà diễn thuyết hay triết gia. Lời dạy của ông đặt trọng tâm ở truy
vấn “Tôi là ai?” (enquiry “Who am I?”) hay truy vấn Tự Ngã (Self-enquiry). Những
chia sẻ của ông rất giản dị, gần gũi với nhiều ví dụ sinh động; giúp cho người
cầu đạo nhận diện chân lý.
Ngày
14/4/1950, trong giờ lúc lâm chung, mọi người tụ tập bên ngoài căn phòng của
ông, cùng xướng lên tán khúc “Arunachala Siva” (The Marital Garland of
Letters). Mắt ông lăn dài những giọt lệ hạnh lạc. Đêm ấy (20h47’), có ngôi sao
lướt qua bầu trời trên đỉnh đồi Arunachala.
2. Từ Truy vấn Tự Ngã ….
Truy
vấn Tự Ngã là gì? Bhagavan từng nói: “truy vấn Tự Ngã không phải bày ra bất
cứ đối tượng nào trước mặt tâm trí mà đơn thuần chỉ là chuyển hướng nó vào
chính nó, để truy nguyên cội rễ của nó”[2].
Mục đích trọng yếu của truy vấn Tự Ngã chính là tập trung toàn bộ tâm trí
vào nguyên ủy của nó. Theo Bhagavan, nếu không có khổ đau, làm sao khát vọng hạnh
lạc trỗi dậy? Nếu khát vọng ấy không trỗi dậy, làm sao truy vấn Tự Ngã có thể
phát khởi? Khổ đau là tiền thân của hạnh lạc. Truy vấn Tự Ngã, theo đó, là hoạt
động chuyển hóa nỗi khổ niềm đau. Bắt đầu từ chính những vấn nạn của tồn tại để
chuyển hóa và nhận diện chân lý hằng hữu.
Một
trong số vấn nạn ấy: ngã biệt. Quá trình tỉnh thức tâm linh bắt đầu khi ngã biệt
bị hoại diệt. Ngã biệt tác loạn, tâm trí liên tục phóng chiếu ra ngoại giới. Đó
là quá trình “thức” đánh mất trạng thái nguyên thủy của nó. Do đó, tập định tâm
trí và chế ngự ngã biệt là việc làm trước tiên và căn bản trên con đường thức tỉnh
tâm linh.
Chế
ngự tâm và định tâm dẫn tới “trí huệ”. Vậy truy vấn Tự Ngã giúp được gì? “Bởi
vì ngoại trừ truy vấn Tự Ngã thì mỗi lối đi nẻo đến đều giả định việc lưu trì
tâm trí như khí cụ để dõi theo nó, và không thể dõi theo nếu không có tâm trí.
Ngã biệt có thể biến hóa thành những hình thái khác nhau và tế vi hơn ở những
bước đường khác nhau của quá trình tu tập nhưng không bao giờ nó bị hoại diệt.
Nỗ lực phá hủy ngã biệt hoặc tâm trí bằng những phương thức khác ngoài truy vấn
Tự Ngã cũng giống như kẻ trộm biến thành cảnh sát để bắt trộm, cũng tức là tự bắt
lấy chính mình. Duy chỉ truy vấn Tự Ngã có thể khải thị chân lý rằng chẳng tồn
tại ngã biệt cũng như tâm trí và cho phép người ta nhận ra Hữu Tại thuần túy
không phân biệt của Tự Ngã hay chính là nhận ra Tuyệt Đối”[3]. Tự Ngã như bản nhiên hữu
tại, như bản thể ủng trợ sự ẩn tàng và thị hiện của giới hiện tượng. Cho nên,
nhận thức Tự Ngã là vấn đề cốt lõi; và truy vấn Tự Ngã là phương pháp trọng tâm
của tất cả mọi phương pháp mà Bhagavan đề cập đến.
Có
nhiều phương pháp giúp tâm thanh tịnh, và truy vấn Tự Ngã cũng một trong số đó[4]. Nhưng ngã biệt vọng chiếu
là căn nguyên khiến cho tâm thanh tịnh vẫn còn tiềm tàng nguy cơ nảy sinh. Do
đó, cần có truy vấn Tự Ngã để triệt tiêu khả năng biến hình của ngã biệt; vì phương
pháp này đưa ngã biệt vào ngọn lửa của chính nó rồi tự thân ngã biệt bị hoại diệt
(giống như dùng que củi khều lửa, đến cuối cùng que củi cũng bị đốt cháy hết).
Truy vấn Tự Ngã hướng tâm trí/ngã biệt vào căn nguyên của nó; tức quy hồi trạng
thái nguyên thủy của nó – Thức Thuần Túy. Dần dà, truy vấn Tự Ngã tạo thành mạch
ngầm ổn định, bền vững; dù xả thiền đi nữa, nó vẫn âm thầm có đó dù người ta
đang nghĩ tưởng hay hành động gì. Hay “Định Tâm” vậy!
Nói
thêm, truy vấn Tự Ngã khác với phép phân tích nội tâm của khoa tâm lý học, cũng
khác với phép niệm chú. Nếu phân tích nội tâm nghiên cứu sự cấu thành và nội
dung tâm trí thì truy vấn Tự Ngã thăm dò vào hậu diện/căn nguyên khởi sinh nghĩ
tưởng. “Tương tự, truy vấn Tự Ngã khác biệt một cách căn bản với việc phân
tích tâm lý hoặc bất kỳ hình thức điều trị tâm thần nào khác. Việc trị liệu như
thế chỉ nhằm mục đích sản tạo ra con người bình thường, khỏe mạnh, dễ hòa nhập
chứ không nhằm để vượt qua các rào cản của trạng thái con người cá nhân, bởi vì
bản thân những người hướng dẫn/trị liệu chưa thực hiện điều này nên họ chẳng thể
khai mở con đường mà họ chưa đặt chân tới. Tuy nhiên, một điều mà truy vấn Tự
Ngã trong các chặng đường khai thị của nó có điểm tương đồng với trị liệu tâm
thần chính là giúp cho việc khai mở các nghĩ tưởng và tạp niệm bị che giấu từ vực
thẳm tinh thần”[5].
Phân biệt này cho thấy, truy vấn Tự Ngã không phụ thuộc vào việc xuất gia, rời
bỏ cõi thế tục (như cách hiểu thông thường). Nó phụ thuộc vào việc chuyển hóa nội
tâm, hướng tâm trí vào căn nguyên khởi sinh của nó để chuyển hóa vô minh, vén bức
màng mê muội huyễn tưởng. Đời khổ hạnh, không nhà không cửa chẳng tạo nên khác
biệt giữa truy vấn Tự Ngã và phân tích nội tâm.
Cần
nhấn mạnh rằng, Bhagavan không phản đối các phương pháp khác trong việc khai mở
nhận thức đúng đắn chân lý. Ông cho rằng, cần phải có nhiều ngã đường khác nhau
để phù hợp với căn cơ và thiên hướng mỗi người. Có chăng, ông ủng hộ việc kết hợp
các phương pháp khả dụng cùng truy vấn Tự Ngã (mà ông đề xướng) để tối ưu hiệu
quả “Định Tâm”/“Nhất Tâm” trong việc hành thiền.
3. … đến Thường Quán
Từ
những lời khuyên của Bhagavan, người cầu đạo có thể nhận thấy nét tương đồng
nào đó với “thường quán” trong Phật lý. Bản thân Bhagavan từng chia sẻ, tất cả
phép tu tập dẫu khác nhau hình thức, song đều hướng đến một mục đích: Giác Ngộ-Giải
Thoát.
Thường
quán (Anupassanä) là “sự quán tưởng, thường xuyên quán
chiếu vào đề mục cố định”; gồm có bảy loại quán tưởng: “tùy quán vô
thường”, “tùy quán khổ não”, “tùy niệm vô ngã”, “tùy niệm nhàm chán”, “tùy niệm
vô tham”, “tùy niệm hoại diệt”, “tùy niệm từ bỏ”[6]. Nói khác đi, thường xuyên
cố định-tập trung vào một vấn đề để chế ngự, thấu thiểu rốt ráo về tâm trí và bản
chất của nó, đưa tới định tưởng. Việc này giúp tẩy trừ những nghĩ tưởng sai lầm,
sau nữa khiến tâm trí không lạc trôi phóng dật vào thế giới ngoại tại. Tâm đạt
tới/quy nguyên trạng thái nguyên thủy thể như Thức Thuần Túy. Bên cạnh đó, thường
quán “cố định đề mục” bằng cách lặp đi lặp lại liên tục việc “nhìn thấu vào”,
cũng như truy vấn Tự Ngã giữ vững hành động truy vấn “Who am I?”. Điều này khiến
cho phép thường quán gần với cuộc “truy vấn” - truy vấn về chính bản chất của
Tâm trong tự thân. Từ tự thân (ngã biệt) ở trạng thái hiện hữu phái sinh trở về
trạng thái nguyên thủy (Tự Ngã/Bản Nhiên). Đúng hơn, thường quán và truy vấn Tự
Ngã có chung bản chất và hướng về cùng mục đích.
Từ
chỗ gặp gỡ giữa truy vấn Tự Ngã và thường quán, độc giả hẳn có thể nghĩ tới
phương pháp thực tập thiền quán (insight meditation). Nhưng điều này không có
nghĩa thiền quán và truy vấn Tự Ngã đồng nhất với nhau. “Thiền quán cần phải
có một đối tượng để hành thiền, còn trong truy vấn Tự Ngã chỉ có chủ thể mà
không có đối tượng. Đó là sự khác biệt giữa chúng”[7]. Tuy nhiên, sự phân biệt của
ông không nhằm mục đích làm rõ tính đúng đắn và khả thi của mỗi phép thực tập;
mà để cho thấy rằng, căn cơ-thiên hướng mỗi người phù hợp với cách tu tập khác
nhau. Ngoài ra, việc kết hợp các phép tu tập là cần thiết nhưng nên có sự hướng
dẫn của một đạo sư uyên thâm.
Ứng
dụng truy vấn Tự Ngã trong việc chế ngự và hàng phục tâm rất phổ biến ở Ấn Độ
và tín chúng Tây phương. Ngoài ra, phương pháp này còn có thể kết hợp với một số
phương pháp khác như thiền điểm sáng, thiền âm thanh, asanas, … nhưng không thể
tách rời với việc “thường xuyên quán chiếu vào đề mục cố định” – tức thường
quán. Đây là bước đi cần thiết trên con đường tỉnh thức. Thường quán thể như việc
chuẩn bị hành trang cho chuyến đi trở về mái nhà xưa.
Tạm kết
Nhìn
từ mối quan hệ gần gũi giữa Truy vấn Tự Ngã và Thường Quán trong quan niệm
Bhagavan Sri Ramana Maharshi, bạn có thấy thiền sinh thường câu nệ hình thức tu
tập dẫn đến trí phân biệt (nhị nguyên) giữa các phương pháp. Việc này ngay từ đầu
đã đi ngược lại mục đích tối hậu của việc tu tập giác ngộ-giải thoát. Thiết
nghĩ, từ mối quan hệ này, người cầu đạo nên quay lại với căn cơ-thiên hướng tự
thân để xác định quá trình và phương pháp tu tập phù hợp. Truy vấn Tự Ngã hay
Thường Quán trong quan niệm Bhagavan - một trong số con đường tỉnh thức tâm
linh - tựu trung nhằm để giúp con người tiêu trừ vô minh, bước đầu vén mở khai
ngộ!
Rừng
Dầu, tháng 12/2022
Võ
Quốc Việt
Tham khảo
1.
Laxmi Narain (ed., 2009). Face to face
with Sri Ramana Maharshi. Hyderabad: Sri Ramana Kendram.
2.
Arthur Osborne (ed.,2002). The
Teachings of Bhagavan Sri Ramana Maharshi in His Own Words. Tiruvannamalai:
Sri Ramanasramam.
3.
Myat Kyaw và San Lwin (2020). Từ điển
thuật ngữ Phật học Pali-Anh-Việt (người dịch Tỳ khưu Đức Hiền). Hà Nội:
Nxb. Tôn giáo.
4.
Ven. Nyanatiloka (2007). Buddhist
dictionary – A manual of Buddhist terms and doctrines (ed. by Ven.
Nyanaponika). Bangkok: Silkworm Books.
[1] Tiểu
sử Ramana Maharshi dựa trên Laxmi Narain (ed., 2009). Face to face with Sri
Ramana Maharshi. Hyderabad: Sri Ramana
Kendram, pp.1-12.
[2] Arthur
Osborne (ed.,2002). The Teachings of Bhagavan Sri Ramana Maharshi in His Own
Words. Tiruvannamalai: Sri Ramanasramam, p.126.
[3] Arthur
Osborne (ed.,2002), p.110.
[4] Arthur
Osborne (ed.,2002), p.109.
[5]
Arthur Osborne (ed.,2002), p.113.
[6] Myat
Kyaw và San Lwin (2020). Từ điển thuật ngữ Phật học Pali-Anh-Việt (Người dịch Tỳ
khưu Đức Hiền). Hà Nội: Nxb. Tôn giáo, tr.29. Có xem thêm: Ven. Nyanatiloka
(2007). Buddhist dictionary – A manual of Buddhist terms and doctrines (ed. by
Ven. Nyanaponika). Bangkok: Silkworm Books, p.18.
[7] Arthur
Osborne (ed.,2002), p.110.



Comments
Post a Comment